Tai Mũi Họng

UNG THƯ THANH QUẢN VÀ HẠ HỌNG

Ngôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lực
 

 Bs Đặng Thanh (Đại học Y Huế)

MỤC TIÊU BÀI GIẢNG:

1. Nêu lên được tầm quan trọng và tính phổ biến của ung thư thanh quản và ung thư hạ họng.

2. Nêu lên được tinh chất dịch tể học của ung thư thanh quản và ung thư hạ họng.

3. Kể các triệu chứng thường gặp của ung thư thanh quản và ung thu hạ họng ở Việt Nam giúp phát hiện bệnh sớm.

4. Tìm các biện pháp để chẩn đoán sớm và điều trị sớm của ung thư thanh quản và ung thư hạ họng.

5. Ap dụng các biện pháp dự phòng thích hợp trong điều kiện của Việt Nam để có thể ngăn ngừa bệnh hoặc hạn chế di chứng do ung thư thanh quản và ung thư hạ họng gây ra.

 

I. ĐẠI CƯƠNG:

Ưng thư thanh quản và ung thư hạ họng là những loại ung thư rất phổ biến trong TMH, không những ảnh hưởng trầm trọng đến các chức năng thở, nuốt và nói mà còn có thể nguy hại tới tính mạng. Nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời có thể hạ thấp tỉ lệ tử vong một cách đáng kể.

Khi xuất hiện các triệu chứng khàn tiếng, khó thở, khó nuốt đặc biệt ở những người trên 40 tuổi cần phải cảnh giác một ung thư thanh quản hoặc ung thư hạ họng và tiến hành khám TMH kỹ lưỡng để phát hiện bệnh sớm.

Những K xuất phát từ hạ họng (điển hình là xoang lê) thuộc biểu mô đường tiêu hóa, khi lan rộng vào thanh quản được gọi là  ung thư hạ họng-thanh quản (KHH-TQ). Còn những ung thư xuất phát từ thanh quản (điển hình là dây thanh âm) thuộc biểu mô đường thở, khi lan rộng ra hai bên được gọi là K thanh quản-hạ họng (KTQ-HH).

II. DỊCH TỂ HỌC:

Nếu như ở các nước Âu Mỹ ung thư thanh quản gặp nhiều hơn ung thư hạ họng, thì ở Việt Nam ung thư hạ họng gặp nhiều hơn ung thư thanh quản và tương quan nầy xấp xỉ 3/1. Công trình nghiên cứu trên 173 bệnh nhân bị ung thư thanh quản và ung thư hạ họng gặp tại Viện Tai Mũi Họng 1955-1975, ung thư hạ họng chiếm 73%.

Ở Việt Nam, ung thư hạ họng đứng hàng thứ 2 sau ung thư vòm và chiếm tỉ lệ khoảng 20% trong các ung thư đường hô hấp tiêu hóa trên. Ung thư thanh quản đứng hàng thứ 3 và chiếm tỉ lệ 7- 10% trong các ung thư đường hô hấp tiêu hóa trên và đứng hàng thứ 9 (3%) trong các ung thư toàn thân (Nguyễn Đình Bảng, Đai Học Y Dược TP HCM 1997).

1.     Tuổi hay gặp nhất từ 45 – 65 tuổi (theo Viện TMH Việt Nam cũng như Viện Gutave- Rousy Pháp).

2.     Nam gặp nhiều hơn nữ với tỉ suất là 5/1, tức là nam giới chiếm tới 85%.

3.     Nghề nghiệp làm ruộng bị mắc bệnh cao, chiếm tỉ lệ đến 95%.

4.     Nông thôn gặp nhiều hơn ở thành thị.

5.     Không có sự khác biệt về tỉ lệ mắc bệnh qua các tháng trong năm.

6.     Bệnh có xu thế tăng dần qua các năm do tuổi thọ trung bình của người già ngày càng tăng, đồng thời sự ô nhiễm môi trường cũng làm tăng tỉ lệ bệnh.

Riêng trong TMH thì KHH-TQ đứng thứ 2 sau K vòm. Ung thư hạ họng và thanh quản gặp ở nam nhiều hơn nữ  (5/1), tuổi hay gặp tư 45-65 tuổi. Bệnh thường thấy ở nông thôn (chủ yếu ở người làm ruộng – 95%).

III. NGUYÊN NHÂN:

Ngoài các giả thuyết chung về ung thư, đối với ung thư thanh quản và ung thư hạ họng cần đặt biệt lưu ý các yếu tố thuận lợi sau đây:

1. Nghiện thuốc lá mạn tính:

Các công trình nghiên cứu đều đi đến kết luận rằng số lượng điếu thuốc được hút trong ngày càng nhiều và số năm hút thuốc càng cao tỉ lệ thuận với tỉ lệ mắc các loại ung thư này.

2. Nghiện rượu mạn tính:

Nghiện rượu cũng là một yếu tố nguy cơ cao gây bệnh do rượu kích thích tại chỗ niêm mạc họng và thanh quản.

Nghiện thuốc lá kèm với nghiện rượu làm cho nguy cơ mắc bệnh tăng lên nhiều.

3.Các bệnh tích tiền ung thư thanh quản:

Đặc biệt bạch sản TQ (là những mảng trắng xám, sừng hóa ở trên bề mặt dây thanh) và u nhú TQ ở người cao tuổi được coi là giai đoạn tiền ung thư; nếu sau khi cắt tái phát nhanh thì tỉ lệ ung thư là 70%. Ngoài ra, polype dây thanh ở người già có tỉ lệ KTQ cũng cao (15%).

4. Vệ sinh răng miệng kém:

Trong điều kiện vệ sinh răng miệng kém, các vi khuẩn hội sinh phát triển mạnh dễ gây nên viêm nhiễm vùng miệng, họng và thanh quản. Kích thích viêm kéo dài là yếu tố thuận lợi cho ung thư thanh quản và hạ họng.

5. Môi trường bị ô nhiễm bụi và hơi hóa chất: đặc biệt ở công nhân tiếp xúc thường xuyên với amiante hoặc thợ mộc thường tiếp xúc với bụi gỗ được coi như là những bệnh nghề nghiệp. 

IV. NHẮC LẠI CƠ SỞ:

1.Về hạ họng: Vùng này có một mạng lưới bạch huyết phong phú. Về tổ chức học, niêm mạc che phủ thuộc biểu mô lát tầng của đường ăn. Về giải phẩu bệnh lý; đại thể thường gặp là thể sùi hay phối hợp với loét, khi khối u đã lan rộng thường phối hợp với thể hoại tử; vi thể thường là K biểu mô biệt hóa (ít nhạy cảm với tia xạ).

2.Về thanh quản: Vùng TQ nhất là tầng thanh môn mạng lưới bạch huyết thường nghèo nàn và hạch cổ thường bị di căn muộn nên tiên lượng khá hơn và có thể điều trị tiệt căn được. Về tổ chức học, niêm mạc che phủ thuộc biểu mô trụ có lông chuyển của đường hô hấp; riêng dây thanh âm được biệt hóa cao thành biểu mô lát. Về giải phẩu bệnh lý; đại thể thường gặp thể sùi, còn thể thâm nhiễm và thể loét ít gặp hơn; vi thể, xuất phát từ dây thanh thường là K biểu mô biệt hóa, còn từ trên và dưới thanh môn thường gặp là K biểu mô ít biệt hóa (nhạy cảm với tia xạ hơn).

V. TRIỆU CHỨNG:

A. Ung thư thanh quản-hạ họng: Lấy thể điển hình là ung thư dây thanh để mô tả.

1.Triệu chứng cơ năng:

Khàn tiếng kéo dài: nhất là đối với những người cao tuổi bị khàn tiếng kéo dài trên 3 tuần, không có triệu chứng viêm nhiễm hoặc đã điều trị 1 đợt kháng sinh không đỡ thì phải cảnh giác KTQ.

Khó thở thanh quản: chỉ xuất hiện khi u đã to.

Khó nuốt: chỉ xuất hiện khi khối u đã lan ra ngoài TQ tới hạ họng.

2.Triệu chứng thực thể:

Soi TQ gián tiếp, nội soi TQ bằng ống soi mềm hoặc cứng.

Hạch cổ chỉ thấy ở giai đoạn muộn, nhóm cảnh giữa cùng bên với tổn thương.

3.Triệu chứng toàn thân: Khó thở tăng dần làm bệnh nhân gầy sút, thiếu oxy, nhiễm độc bới ung thư.

2.Ung thư hạ họng-thanh quản: Lấy thể điến hình là K xoang lê để mô tả.

a.Triệu chứng cơ năng:

-Bệnh bắt đầu bằng các rối loạn về nuốt: Nuốt khó xuất hiện trước và tăng dần, lúc đầu là cảm giác vướng họng, sau đó là nuốt tắc ngày càng tăng. Về sau nuốt đau cũng xuất hiện và tiến triển cùng với nuốt khó.

-Khi khối u lan rộng vào TQ sẽ gây ra khàn tiếng và khó thở.

b.Triệu chứng thực thể:

Soi TQ gián tiếp, trực tiếp: giai đoạn đầu thấy xoang lê ứ đọng nước bọt và có tổ chức K. Giai đoạn muộn u lan rộng ra toàn bộ xoang lê, hạ họng và lan vào thanh quản.

Khối u cũng có thể lan rộng ra phía ngoài thâm nhiễm vào cánh sụn giáp và da vùng cổ.

Hạch cổ thường xuất hiện sớm ngay từ giai đoạn đầu của bệnh, thường ở vị trí cảnh giữa ngang tầm xương móng. Hạch to dần lên, cứng, cố định.

c.Triệu chứng toàn thân: Thể trạng suy kiệt dần do ăn uống kém, do thiếu oxy, do nhiễm độc bởi ung thư

VI. CÁC THỂ LÂM SÀNG:

A.Đối với ung thư thanh quản:

Ung thư dây thanh.

Ung thư vùng trên thanh môn.

Ung thư vùng dưới thanh môn.

Ung thư thanh thiệt.

B. Đối với ung thư hạ họng:

Thể hạch.

Ung thư thành sau họng.

Ung thư mặt sau sụn nhẫn.

VII. CẬN LÂM SÀNG:

Sinh thiết khối u để tìm bản chất tổ chức học là chắc chắn nhất, có thể kết hợp với chọc hạch để làm hạch đồ để xác định tính chất xâm nhiễm của khối u vào hạch.

CT scan: gíup đánh giá chính xác sự xâm lấn của khối u để dự kiến phẩu thuật.

Các xét nghiệm cơ bản để đánh giá thể trạng chung.

VIII. CHẨN ĐOÁN:

1.Chẩn đoán xác định: Dựa vào khám lâm sàng (đặc biệt khi bệnh nhân có những rối loạn cơ năng như khàn tiếng, khó thở, khó nuốt), soi thanh quản gián tiếp hoặc trực tiếp, sinh thiết u (là xét nghiệm chắc chắn nhất để khẳng định bệnh), chọc hạch (để đánh giá sự xâm nhiễm của khối u vào hạch). Chụp CT scan để đánh giá mức độ xâm lấn.

2.Chẩn đoạn giai đoạn theo TNM.

3.Chấn đoán phân biệt: với u nhú thanh quản, lao hoặc giang mai ở thanh quản và hạ họng.

IX. TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG:

Nếu không điều trị, bệnh sẽ khó thở nặng và không ăn uống được do ung thư lan rộng, sẽ chết vì ngạt thở, suy kiệt do nhiễm độc ung thư, hoặc biến chứng viêm phổi.

X. ĐIỀU TRỊ:

1.Phẩu thuật:

a.Đối với hạch cổ: Nạo vét hạch cổ cùng thì với cắt bỏ khối u, sau đó phối hợp điều trị tia xạ.

b.Đối với khối u: cắt bỏ rộng khối u cả khối, tôn trọng ranh giới an toàn, bảo tồn hoặc phục hồi tái tạo chức năng của vùng họng-thanh quản.

2.Tia xạ: Phối hợp tia xạ hậu phẩu thì triệt để hơn, nếu chỉ tia xạ đơn thuần thì tiên lượng kém hơn.

3.Hóa trị: Ít  có tác dụng vì chỉ dùng theo đường toàn thân nên chỉ áp dụng trong các thể ung thư sarcome. Các hóa chất thường dùng là Cysplatine, 5FU…

4.Miễn dịch trị liệu: làm tăng sức đề kháng của bệnh nhân.

XI. TIÊN LƯỢNG:

Nếu ung thư còn khu trú thì tiên lượng tốt. Ung thư thanh quản có tỉ lệ sống > 5 năm từ 60-85%. Ung thư hạ họng có tiên lượng xấu hơn ung thư thanh quản 3-4 lần.

XII. PHÒNG BỆNH:

1. Biện pháp quan trọng nhất để hạn chế đáng kể yếu tố nguy cơ là mọi người cần bỏ rượu và thuốc lá.

2. Cần tăng cường các biện pháp giáo dục sức khỏe trong cộng đồng để mọi người cần phải có ý thức bảo vệ sức khỏe không những cho chính mình mà còn cho người khác, chẳng hạn như chấp hành tốt các qui tắc phòng hộ lao động, không gây ô nhiễm môi trường như hút thuốc lá nơi công cộng, sử dụng các phương tiện thải ra nhiều bụi khói độc.

3. Tổ chức tốt mạng lưới y tế cơ sở có chất lượng chuyêm môn để phát hiện sớm bệnh này và kịp thời chuyển lên tuyến trên để điều trị. Ở tuyến chuyên sâu, cần đào tạo một đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn giỏi và tận tình. Đồng thời cần trang bị thêm máy chiếu tia, thuốc chống ung thư, và miễn dịch trị liệu.

4. Các bệnh nhân đã được điều trị ung thư cần phải được quản lý tốt bằng khám định kỳ có sổ theo dõi kết quả. Đặc biệt cần quan tâm đến việc phục hồi chức năng của sự thở, nuốt và nói chẳng hạn như tập nói bằng giọng thực quản sau cắt thanh quản toàn phần, tập nuốt để khỏi bị sặc thức ăn vào đường thở sau cắt thanh quản bán phần v.v

Bài có thể bạn quan tâm

©2002-2017. Copyright by Sức Khỏe Cộng Đồng. Quản trị nội dung: BSCK2 Phạm Xuân Hậu.
Nội dung trên website chỉ mang tính chất tham khảo. Để điều trị cụ thể bệnh, xin vui lòng đến khám trực tiếp tại cơ sở y tế.